Bàn về tính đồng bộ trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thực hiện các mục tiêu không muốn, không thể, không dám, không cần tham nhũng

Thứ hai - 07/02/2022 21:55
1. Nhận thức bước đầu về tính đồng bộ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
   Đại hội XIII của Đảng với quan điểm kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn đã đề ra bốn nhóm giải pháp lớn với tinh thần cơ bản là: (1) Kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng; (2) Hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để tiến tới không thể tham nhũng; (3) Nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý để không dám tham nhũng; (4) Bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác.
 
    Đây là kết quả đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước ta qua nhiều nhiệm kỳ, đồng thời, là sự vận dụng sáng tạo bài học thành công trong PCTN của một số quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu nội dung của bốn nhóm giải pháp PCTN trong Văn kiện Đại hội XIII, liên hệ với kinh nghiệm quốc tế về PCTN có thể hiểu Đảng ta chỉ đạo công tác PCTN hướng tới mục tiêu “bốn không”, lần lượt là: “Không muốn”, “không thể”, “không dám” và “không cần” tham nhũng. Có ba trong bốn mục tiêu trên lần đầu tiên chính thức được đưa thành quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo PCTN của Đảng ta tại Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết  Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí: “Kiên quyết, kiên trì, khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị để không dám tham nhũng; cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng”; trong phần các nhiệm vụ cụ thể, Kết luận số 10-KL/TW cũng đặt ra nhiệm vụ “xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, trước hết là trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”, về bản chất, đây chính là cốt lõi của mục tiêu thứ tư “không muốn tham nhũng”. Việc đưa các nhiệm vụ, giải pháp PCTN thành bốn trụ cột hướng tới mục tiêu “bốn không” vào Văn kiện Đại hội XIII là một bước phát triển quan trọng về quan điểm PCTN của Đảng.
 
    Nhìn lại 15 năm kiên trì mục tiêu “quyết tâm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí, công cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước ta đã đạt được những kết quả rõ rệt, tham nhũng đã có chiều hướng thuyên giảm. Tuy nhiên, trong đợt tổng kết công tác PCTN giai đoạn 2013-2020, có nhận định cho rằng, kết quả PCTN chưa thực sự bền vững, nhất là một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng vẫn mang tính hình thức, hiệu quả không cao; như tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nội bộ; kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; kiểm soát xung đột lợi ích; chuyển đổi vị trí công tác; giáo dục đạo đức liêm chính... Trên thực tế, trong năm 2021 vừa qua, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp nỗ lực cố gắng, chung sức, đồng lòng cùng nhau vượt qua đại dịch Covid-19, kinh tế đất nước chịu hậu quả nặng nề, hàng chục ngàn đồng bào chết vì dịch bệnh, nhưng vẫn có sự thông đồng, câu kết giữa một số doanh nghiệp với số cán bộ thoái hóa biến chất trong lĩnh vực y tế để trục lợi, chiếm đoạt tiền nhà nước và của bệnh nhân; điển hình như các vụ việc xảy ra tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà nội, Công ty Việt Á và sở y tế một số địa phương...
 
Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam

    Khi rà soát, nghiên cứu tổng thể nội dung Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) và các Kết luận số 21-KL/TW, Kết luận số 10-KL/TW của Trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết này cho thấy, các nhiệm vụ, giải pháp PCTN mà Nghị quyết và các Kết luật đề ra rất toàn diện, có tính chiến lược cao, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục được Văn kiện Đại hội XIII của Đảng phát triển, làm sâu sắc hơn, hướng tới các mục tiêu rất cụ thể. Tuy nhiên, từ thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cần được đặc biệt quan tâm để đưa Nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống đó là nâng cao tính đồng bộ của công tác PCTN, tiêu cực và trong từng nhóm nhiệm vụ, giải pháp PCTN, tiêu cực cụ thể. Yêu cầu về tính đồng bộ trong hoạt động quản lý nhà nước và ngay trong các thiết chế, thể chế của bộ máy nhà nước luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm. Trong tài liệu Văn kiện Đại hội XIII, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII có hơn 60 lần nhắc đến thuật ngữ “đồng bộ”, Báo cáo về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng cũng có 28 lần nhắc đến thuật ngữ này. Khi đề ra các chủ trương, giải pháp PCTN, Đảng ta cũng rất chú trọng đến yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ, như: “Cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, đồng bộ mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp về PCTN, lãng phí”(1); “bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật nhà nước”(2); “xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật của Nhà nước và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”(3); “thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự trong đấu tranh PCTN, lãng phí”(4)... Trong những năm gần đây, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, tính đồng bộ đã được thể hiện khá rõ nét trong một số hoạt động PCTN, nhất là trong phối hợp phát hiện, xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng. Tuy nhiên đến nay, chưa có nghiên cứu nào xác lập rõ ràng, toàn diện mối quan hệ tương hỗ của các nhiệm vụ, giải pháp PCTN mà Đảng ta đã đề ra, dẫn đến không ít cơ quan, tổ chức, cá nhân gặp phải lúng túng trong thực hiện và đánh giá hiệu quả. Tính đồng bộ trong PCTN, tiêu cực được hiểu là sự kết hợp ăn khớp, nhịp nhàng, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau của các nhân tố tham gia quá trình PCTN, tiêu cực (quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ, giải pháp, hoạt động của các chủ thể...) để phát huy tối đa tác dụng cũng như tính khả thi của từng nhân tố.
 
    Tính đồng bộ trong PCTN, tiêu cực được nhìn nhận, đánh giá dựa trên những tiêu chí sau:
 
    (1) Trong thể chế về PCTN, tiêu cực và pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội: Phải bảo đảm không có sự chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột, khoảng hở giữa các văn bản pháp luật, giữa văn bản pháp luật với quy định của Đảng và giữa văn bản pháp luật với văn bản hướng dẫn.
 
    (2) Trong các chiến lược, chương trình, kế hoạch PCTN, tiêu cực: Phải xác định đúng lộ trình, trình tự thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; bảo đảm mối quan hệ nhân - quả giữa mục tiêu đề ra với nhiệm vụ cần làm, phân định rõ nhiệm vụ nào giải pháp đó, giai đoạn nào mục tiêu, nhiệm vụ đó.
 
    (3) Trong xác định và thực thi các nhiệm vụ, giải pháp PCTN, tiêu cực: Phải phân loại để xác định đúng vai trò, vị trí, tác dụng của từng nhiệm vụ, giải pháp và mối quan hệ tương tác giữa chúng để sắp xếp hợp lý trong một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, cần làm rõ nhiệm vụ, giải pháp nào là tiền đề, tạo ra điều kiện bảo đảm cho nhiệm vụ, giải pháp khác để ưu tiên thực hiện trước, hoàn thành trước. Bên cạnh đó, đối với những nhiệm vụ có tính chiến lược, lâu dài thì phải đề ra được các mục tiêu, giải pháp cụ thể cho từng thời kỳ, giai đoạn và các bước thực hiện.
 
    (4) Trong hoạt động của các chủ thể PCTN, tiêu cực: Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được quy định, các cơ quan, tổ chức có chức năng PCTN, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương, cơ sở phải tạo được cơ chế phối hợp nhịp nhàng, thực hiện “đúng vai, thuộc bài” trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ PCTN, tiêu cực, tránh chồng chéo, trùng giẫm, sót lọt; có sự kiểm soát, chế ước lẫn nhau trong thực hiện quyền lực được giao để loại bỏ lợi ích cục bộ, không để xẩy ra tình trạng chia cắt, cát cứ hoặc đùn đẩy trách nhiệm khi cùng thực hiện nhiệm vụ PCTN, tiêu cực, nhất là trong kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý tham nhũng.
 
    2. Thực trạng về tính đồng bộ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt nam thời gian qua
 
    Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu hạn chế, yếu kém của công tác PCTN: “Công tác PCTN ở một số địa phương, bộ, ngành chuyển biến chưa rõ rệt, trách nhiệm của người đứng đầu đối với công tác PCTN chưa được đề cao. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Thể chế về quản lý kinh tế - xã hội góp phần PCTN, lãng phí còn bất cập; cơ chế kiểm soát quyền lực đối với tổ chức và người có chức vụ, quyền hạn chưa đủ mạnh; việc kiểm soát tài sản, thu nhập chưa chặt chẽ, hiệu quả. Tham nhũng trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với biểu hiện ngày càng tinh vi; tình trạng nhũng nhiễu người dân, doanh nghiệp vẫn còn khá phổ biến, gây bức xúc trong xã hội”(5). Phân tích nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên có thể thấy rõ sự bất cập về tính đồng bộ trong PCTN, tiêu cực. Cụ thể như:
 
    - Thiếu sự đồng bộ giữa cơ chế lựa chọn người đứng đầu với quy định trách nhiệm PCTN, tiêu cực của người đứng đầu: Trong các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác PCTN, tiêu cực thời gian qua, nhìn từ góc độ công tác cán bộ, người đứng đầu phải có đầy đủ những phẩm chất, năng lực cần thiết, như đồng chí Tổng Bí thư đã từng nhấn mạnh: Phải có trái tim sục sôi bầu nhiệt huyết cách mạng, sẵn sàng hành động vì nước, vì dân; có cái đầu đầy bản lĩnh và trí tuệ để vượt qua mọi khó khăn, thử thách; có đôi chân vững chắc và bàn tay sạch để đứng vững, đứng thẳng và khước từ mọi sự cám dỗ(6). Nếu soi vào những tiêu chí trên thì người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương hiện nay chưa phải nơi nào cũng đáp ứng được, do việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các cấp vẫn còn những hạn chế mà chưa có cách khắc phục triệt để; bằng chứng là vẫn có những cán bộ lãnh đạo cao cấp sai phạm nghiêm trọng bị phát hiện, xử lý ngay trước, trong và sau Đại hội XIII của Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XV vừa qua. Bên cạnh đó, giữa cơ chế ràng buộc trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng và cơ chế khuyến khích người đứng đầu tự phát hiện, xử lý tham nhũng trong nội bộ vẫn còn có sự mâu thuẫn, bất cập làm cản trở quyết tâm phát hiện, xử lý tham nhũng của họ.
 
    - Thiếu sự đồng bộ trong việc xác định và thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nền tảng, cơ sở cần ưu tiên và nhiệm vụ, giải pháp căn cơ, lâu dài: Có thể nhận thấy trong các nhiệm vụ, giải pháp PCTN, tiêu cực mà Đảng ta đề ra, có những nhiệm vụ, giải pháp là yếu tố bảo đảm để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp khác, do đó, cần phải tập trung thực hiện trước, như: Để hình thành sự tự giác của cán bộ, công chức trong đấu tranh chống tham nhũng, trước hết phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với đẩy mạnh giáo dục liêm chính; để nâng cao hiệu quả công tác PCTN, tiêu cực ở địa phương, cơ sở, trước hết cần tăng cường kiểm tra, giám sát; để hạn chế tham nhũng vặt, cần phải cải thiện được thu nhập của cán bộ, công chức; để kiểm soát được quyền lực nhà nước, trước hết phải kiểm soát được lợi ích vật chất của người có chức vụ, quyền hạn; muốn kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, trước hết phải tập trung đẩy nhanh việc thanh toán không dùng tiền mặt; muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan chống tham nhũng, trước hết phải tăng cường tính độc lập, bổ sung thẩm quyền và bảo đảm sự liêm chính của cơ quan này... Trên thực tế thời gian qua, chúng ta mới chỉ nhấn mạnh “tính đồng thời” chứ chưa bảo đảm được “tính đồng bộ” của các nhiệm vụ, giải pháp PCTN, tiêu cực trong quá trình thực hiện. Do đó, hiệu quả của những giải pháp đòi hỏi phải có tính căn cơ, lâu dài không rõ ràng vì thiếu điều kiện bảo đảm và thường được đánh giá là “còn mang tính hình thức”.
 
    - Thiếu sự đồng bộ, thống nhất trong quy định của các văn bản pháp quy về PCTN và về quản lý kinh tế - xã hội, biểu hiện như: (1) Cùng giải quyết một vấn đề nhưng quy định ở các luật không nhất quán, ví dụ như việc quản lý, sử dụng đất được điều chỉnh bởi Luật Đất đai, Luật Quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công…, tương ứng với các luật trên lại có nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết, có sự mâu thuẫn về thẩm quyền, trình tự giải quyết, định giá, đấu giá, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng…; trong năm 2021, sau nhiều lần chỉnh sửa nhưng Luật Đất đai vẫn chưa được Quốc hội thông qua; (2) Việc sửa đổi, bổ sung quy định về PCTN có những nội dung thiếu triệt để, toàn diện hoặc chậm được hướng dẫn thực hiện, điển hình như quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong Luật PCTN năm 2018 vẫn chưa quy định rõ ràng về xử lý tài sản, thu nhập không giải trình được nguồn gốc, dẫn đến tác dụng của đợt kê khai tài sản, thu nhập lại lần đầu trong năm 2021 vẫn chưa tạo được sự chuyển biến rõ nét về tính trung thực; (3) Quy định về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền PCTN của cơ quan như hiện nay dễ dẫn tới tình trạng cơ quan, đơn vị nơi xảy ra vụ việc tham nhũng cùng lúc phải tiếp, làm việc với các cơ quan có chức năng PCTN khác nhau...
 
    Việc tập hợp các nhiệm vụ, giải pháp PCTN, tiêu cực theo bốn nhóm dựa trên quan điểm nhất quán về vai trò của công tác PCTN, tiêu cực, quyết tâm chính trị, cách thức tiến hành và phương pháp tổ chức, huy động lực lượng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng giúp định vị rõ hơn mối quan hệ giữa các nhóm nhiệm vụ, giải pháp và giữa các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong từng nhóm. Nghiên cứu thứ tự các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong Báo cáo Chính trị và Báo cáo Tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII có thể thấy, Đảng ta đã đặt 02 nhiệm vụ về tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm, không tham nhũng và về hoàn thiện thể chế lên trọng tâm hàng đầu cho cả nhiệm kỳ và thời gian tới; các nhiệm vụ về nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý tham nhũng và về bảo đảm cuộc sống vật chất cho cán bộ, công chức, viên chức được đặt sau. Cách sắp xếp này thể hiện quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa “xây” và “chống”, coi công tác PCTN, tiêu cực là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và trong Chiến lược xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
 
    3. Giải pháp góp phần bảo đảm tính đồng bộ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam thời gian tới
 
    Từ nhận thức trên, để khắc phục những hạn chế, bất cập về tính đồng bộ trong PCTN, tiêu cực thời gian qua, trong triển khai thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp PCTN, tiêu cực theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cần quan tâm đến những vấn đề sau: 
 
    Trước hết, cần khẩn trương xây dựng một Chiến lược PCTN, tiêu cực tổng thể có lộ trình phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam để hoạch định các giai đoạn thực hiện bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp PCTN, tiêu cực nêu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Trong đó, xác định nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng là nhiệm vụ căn cơ, lâu dài, xuyên suốt trong toàn bộ Chiến lược và là trụ cột quan trọng hàng đầu trong bốn trụ cột của công tác PCTN, tiêu cực; nhiệm vụ hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để tiến tới không thể tham nhũng cần được tiếp tục đẩy mạnh, cốt lõi là tập trung sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về PCTN, tiêu cực và về quản lý kinh tế - xã hội, đặt rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong PCTN, tiêu cực và kiểm soát có hiệu quả quyền lực nhà nước; nhiệm vụ đẩy mạnh phát hiện, xử lý tham nhũng để không dám tham nhũng tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên của nhiệm kỳ Đại hội XIII, biện pháp xử lý phải đồng bộ, kiên quyết, nghiêm minh, đủ sức răn đe, để không phát sinh các vụ việc tham nhũng nghiêm trọng mới; cải cách chính sách tiền lương, nâng cao đời sống cho cán bộ, công chức phải được thực hiện kịp thời, tương ứng với hiệu quả của cải cách hành chính và phát triển kinh tế đất nước.
 
    Hai là, đối với nhóm nhiệm vụ, giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao về ý chí, hành động trong đấu tranh PCTN, tiêu cực của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cần đặt ra lộ trình theo các giai đoạn: (1) Tập trung đổi mới phương pháp, nội dung giáo dục PCTN, tiêu cực trong đảng viên, cán bộ, công chức để xây dựng đạo đức liêm khiết trong đội ngũ cán bộ nhà nước; (2) Nâng cao hiệu quả giáo dục liêm chính, không tham nhũng trong các cơ sở giáo dục, đào tạo phổ thông và chuyên nghiệp để tạo nguồn cho cán bộ, công chức nhà nước tương lai có ý thức “đề kháng” với tham nhũng; (3) Hình thành lối sống trọng liêm sỉ, trọng danh dự, lên án, phê phán tham nhũng trong xã hội.
 
    Ba là, đối với nhiệm vụ hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để tiến tới không thể tham nhũng, giải pháp ưu tiên là nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật; tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Cần xây dựng lộ trình chuyển dần trách nhiệm xây dựng dự án luật từ các cơ quan của Chính phủ sang các cơ quan của Quốc hội để chuyên trách hóa, tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng văn bản pháp luật, ngăn ngừa có hiệu quả tham nhũng chính sách, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong xây dựng pháp luật. Nâng cao năng lực dự báo, đánh giá tác động và phản hồi chính sách. Về nội dung, tập trung rà soát, phát hiện, khắc phục kịp thời sự chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập trong các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, hoạt động đầu thầu, mua sắm công, quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật; quy định về công tác cán bộ, kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; hoàn thiện các cơ chế về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát, chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan có chức năng PCTN, tiêu cực, cơ chế động viên, khuyến khích sự tham gia của người dân và doanh
nghiệp trong PCTN, cơ chế  giám sát của cơ quan dân cử và các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác PCTN, tiêu cực; bảo đảm sự thống nhất giữa văn bản của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước về PCTN, tiêu cực để tạo sự liên thông, nhất quán, thuận lợi khi vận dụng, áp dụng... Trong tổ chức thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, cần tập trung ưu tiên các giải pháp có tác dụng tạo điều kiện bảo đảm để công khai, minh bạch và kiểm soát quyền lực, như: Đẩy nhanh thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt; ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ quản lý để giảm tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ nhà nước với người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục, dịch vụ hành chính công, đầu thầu mua sắm công; khẩn trương xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức chức và tiến tới của toàn xã hội; nâng cao trách nhiệm cá nhân trong giới thiệu, tiến cử, đề bạt cán bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát công tác PCTN, tiêu cực…
 
    Bốn là, trong phát hiện, xử lý tham nhũng, cần thực hiện các giải pháp theo thứ tự ưu tiên: (1) Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực của các cơ quan có chức năng PCTN, tiêu cực, bảo đảm sự độc lập tương đối của cơ quan chống tham nhũng chuyên trách; (2) Giám sát có hiệu quả quyền lực của các cơ quan có chức năng PCTN, tiêu cực; tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp, đạo đức liêm chính, đồng thời, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để bảo đảm liêm chính cho đội ngũ cán bộ làm công tác PCTN, tiêu cực; (3) Nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng của hoạt động thanh tra, kiểm toán, kiểm tra Đảng, hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Công an; tạo sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, kịp thời giữa các cơ quan có chức năng PCTN, tiêu cực; (4) Mở rộng hợp tác quốc tế về điều tra, truy bắt đối tượng tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ngoài; (5) Tích cực, chủ động triển khai thực hiện quy định về PCTN, tiêu cực ở khu vực ngoài nhà nước, không để tham nhũng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng.
 
    Năm là, để nâng cao đời sống vật chất cho cán bộ, công chức, góp phần hạn chế tham nhũng vặt, giải pháp cần được quan tâm đầu tiên là tìm kiếm nguồn ngân sách để nâng lương cho cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm mức lương của đội ngũ cán bộ nhà nước tương đương với mức thu nhập của nhân viên có cùng năng lực, kinh nghiệm ở khu vực ngoài nhà nước. Để thực hiện được mục tiêu này, cần thực hiện quyết liệt việc tinh giản biên chế, thu gọn đầu mối, ứng dụng công nghệ trong quản lý và chống thất thoát các nguồn thu ngân sách. Bên cạnh đó, các dịch vụ công và bảo hiểm y tế dành cho cán bộ, công chức, viên chức phải được thực hiện công bằng, thực chất, tạo điều kiện để họ dành thời gian, tâm huyết cho công vụ. Đồng thời, xác định rõ lộ trình xây dựng các khu nhà ở công vụ cho cán bộ, công chức thuê trọn đời hoặc được mua với giá hợp lý, thuận tiện cho việc đi lại, sinh hoạt và làm việc.
 
    Sáu là, để thực hiện thắng lợi mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ của Đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực. Cần tiếp tục đổi mới cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực trong các cơ quan, đơn vị, địa phương và các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trước mắt, cần nghiên cứu, đề xuất thành lập các ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để áp dụng những kinh nghiệm quý từ hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCTN ở các địa phương. Trong các cơ quan có chức năng PCTN, tiêu cực, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động phát hiện, xử lý tham nhũng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong các đơn vị trực tiếp đấu tranh chống tham nhũng. Ở các bộ, ngành, nhất là những nơi có chức năng quản lý nhà nước về kinh tế cần kiện toàn, chuyên trách hóa đầu mối tham mưu, giúp việc cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan về công tác PCTN, tiêu cực, bảo đảm có đủ chức năng, thẩm quyền và năng lực theo dõi, tham mưu về công tác PCTN, tiêu cực trong cơ quan và trong toàn ngành, lĩnh vực.
 
    (1) Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí.
    (2) Kết luận số 10-KL/TW: Tài liệu đã dẫn.
    (3) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII.
    (4) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII: Tài liệu đã dẫn.
    (5) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII: Tài liệu đã dẫn.
    (6) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan Nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, ngày 15/9/2021.
 
TS. Nguyễn Cảnh Lam
(Ban Nội chính Trung ương/noichinh.vn)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Đại hội
Nghị quyết HĐND tỉnh
Covid-19
Biển đảo

Thống kê

  • Đang truy cập24
  • Hôm nay1,887
  • Tháng hiện tại9,908
  • Tổng lượt truy cập2,098,092
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây